Mối liên kết nguy hiểm giữa bệnh thận mạn và tăng huyết áp

Huyết áp cao là gì ?

Tim của bạn bơm máu của bạn đi khắp cơ thể bằng cách sử dụng các ống được gọi là động mạch và tĩnh mạch. Khi máu di chuyển qua các động mạch và tĩnh mạch của bạn, nó tạo áp lực bên trong các ống. Đây được gọi là huyết áp.

Huyết áp cao là bệnh lý mạn tính trong đó áp lực máu đo được ở động mạch tăng cao. Huyết áp thường được đo bằng 2 chỉ số là huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương dựa trên 2 giai đoạn co bóp và giãn nghỉ của cơ tim, tương đương với áp lực cao nhất và áp lực thấp nhất của dòng máu trong động mạch.

Hiện nay, huyết áp ở người bình thường, huyết áp tâm thu thường nhỏ hơn 120 và huyết áp tâm trương nhỏ hơn 80. Người bị bệnh cao huyết áp  chỉ số huyết áp tâm thu từ >120 mmHg và tâm trương từ 80-89 mmHg.

Triệu chứng, biểu hiện huyết áp cao là gì?

Dấu hiệu, triệu chứng của cơ thể là những biểu hiện để nhận ra bạn đang gặp phải cao huyết áp. Đồng thời bạn cần kết hợp với kiểm tra huyết áp thường xuyên định kỳ để có phương án dự phòng hợp lý. Dưới đây là một số triệu chứng của bệnh cao huyết áp mà bạn cần theo dõi:

 Chảy máu mũi

Chảy máu mũi là dấu hiệu thường thấy ở bệnh nhân cao huyết áp. Khi huyết áp của bạn tăng cao đột ngột dẫn đến chảy nhiều máu, khó ngừng. Lúc này bạn nên đi thăm khám để đảm bảo sức khoẻ của bản thân.

 Vệt máu bên trong mắt

Thấy có vệt máu bên trong mắt hoặc bị xuất huyết kết mạc cũng có thể là dấu hiệu của người bệnh cao huyết áp hoặc tiểu đường. Để chắc chắn, bạn có thể kiểm tra tình trạng huyết áp trong cơ thể  bằng máy đo hoặc đến cơ sở y tế gần nhất.

 Tê, ngứa, râm ran các chi

Đây là dấu hiệu cảnh báo sớm của bệnh đột quỵ do tăng huyết áp gây ra. Khi bạn bị tăng huyết áp liên tục và không kiểm soát được cần chú ý vì đây là lý do dẫn đến sự tê liệt các dây thần kinh trong cơ thể bạn.

 Nôn và buồn nôn

Triệu chứng này có thể liên quan đến bệnh lý khác nên bạn cần kiểm chứng với các triệu chứng liên quan như nhìn không rõ, nhìn mờ, khó thở.

 Chóng mặt

Người bệnh thấy chóng mặt đi kèm 2 triệu chứng choáng và mất thăng bằng cho thấy người bệnh có tình trạng cao huyết áp. Đây là dấu hiệu bệnh cao huyết áp mà bạn không nên bỏ qua.

Huyết áp cao gây ra bệnh thận như thế nào?

Tăng huyết áp là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến bệnh thận mạn do những ảnh hưởng xấu của việc huyết áp tăng tác động đến mạch máu thận. Tình trạng tăng huyết áp, không được kiểm soát kéo dài gây ra áp lực cao trong cầu thận, làm giảm mức lọc cầu thận. Tổn thương trên tiểu cầu thận làm đẩy mạnh quá trình lọc protein, do đó, làm tăng bất thường lượng protein trong nước tiểu (albumin niệu vi thể hoặc protein niệu). Albumin niệu vi thể là sự xuất hiện của một lượng nhỏ albumin trong nước tiểu và thường là dấu hiệu đầu tiên của bệnh thận mạn. Protein niệu (tỷ lệ protein/creatinin ≥ 200mg/g) tăng theo tiến triển bệnh thận mạn và thường liên quan đến tiên lượng xấu về cả bệnh thận và bệnh tim mạch.

Mối liên kết giữa tăng huyết áp và bệnh thận mạn.

Tăng huyết áp xảy ra ở 85-95% bệnh nhân mắc bệnh thận mạn (giai đoạn 3-5). Tăng huyết áp không được kiểm soát là một yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh thận mạn và làm tăng tốc độ tiến triển bệnh.Tương tự vậy bệnh thận kéo dài làm tăng thêm tình trạng cao huyết áp không được kiểm soát được do thận bị tổn thương đã làm giãn nở thể tích mạch máu và tăng sức cản của mạch toàn thân.

Phương pháp điều trị bệnh cao huyết áp hiệu quả

Cao huyết áp là vấn đề bệnh lý nguy hiểm bởi có thể kéo theo biến chứng dẫn đến tình trạng đột quỵ não, nhồi máu cơ tim. Khi bị cao huyết áp, người bệnh cần chú ý đảm bảo chế độ dinh dưỡng, sinh hoạt, sử dụng dược phẩm theo chỉ định của y bác sĩ chuyên khoa. Trong quá trình hỗ trợ điều trị cao huyết áp cần đảm bảo được các yếu tố sau đây:

 Thay đổi chế độ dinh dưỡng

  • Nên ăn nhạt, không nên sử dụng quá 1 muỗng cà phê muối trong khẩu phần ăn hằng ngày (đây là lượng muối bao gồm trong thức ăn và nước chấm)
  • Bị béo phì nên áp dụng chế độ ăn giảm cân: ăn ít đường, hạn chế mỡ, ăn nhiều cá và chất xơ trong rau củ quả
  • Không ăn quá ngọt ngay cả khi không bị tiểu đường.
  • Ăn đồ ăn chứa đạm có nguồn gốc từ cá, thực vật thay các loại đạm trong gà, bò, heo.
  • Hạn chế sử dụng mỡ động vật và dầu dừa. Thay vì dùng mỡ động vật thì tốt nhất bạn nên dùng dầu Ô-liu, dầu mè, dầu đậu nành, dầu hướng dương.
  • Tránh xa đồ uống có cồn, chất kích thích, bỏ thói quen hút thuốc.

 Thay đổi chế độ sinh hoạt

  • Rèn luyện cơ thể thường xuyên, nên tập thể dục đều đặn ít nhất 45 phút mỗi ngày và 3 lần trong một tuần, tuy nhiên không nên quá gắng sức để ảnh hưởng đến sức khoẻ.
  • Duy trì một nếp sinh hoạt điều độ, lành mạnh và ổn định
  • Tránh tình trạng căng thẳng đầu óc, quá xúc động và lo âu.

 Sử dụng thuốc ổn định huyết áp

 

Thuốc ức chế men chuyển hoặc thuốc ức chế thụ thể AT1

Kết quả từ các nghiên cứu cho thấy các thuốc điều trị tăng huyết áp tác động trên hệ renin-angiotensin có hiệu quả trong phòng ngừa suy giảm chức năng thận tốt hơn so với các nhóm thuốc khác, cả trong trường hợp mức huyết áp mục tiêu đạt được là như nhau. Hiệu quả này được ghi nhận rõ rệt ở các bệnh nhân có protein niệu, nhưng ít thấy rõ trên bệnh nhân không có protein niệu. Dựa trên những kết quả trên, các hướng dẫn điều trị khuyến cáo các thuốc ức chế men chuyển hoặc các thuốc ức chế thụ thể AT1 là lựa chọn đầu tay cho những bệnh nhân mắc bệnh thận kèm hoặc không kèm đái tháo đường, tăng huyết áp và có protein niệu. Các dữ liệu cũng chỉ ra rằng các thuốc ức chế men chuyển và các thuốc ức chế thụ thể AT1 có hiệu quả như nhau trong việc làm giảm huyết áp và làm giảm protein niệu. Một phân tích gộp gần đây cho thấy các thuốc ức chế men chuyển có thể có hiệu quả trội hơn so với các thuốc ức chế thụ thể AT1 trong điều trị tăng huyết áp do làm giảm 10 % tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân. Những kết quả này mới chỉ được xác định ở các bệnh nhân tăng huyết áp và không áp dụng cho những bệnh nhân có bệnh mắc kèm như bệnh thận mạn. Vì vậy, việc ưu tiên lựa chọn thuốc này hơn thuốc kia phụ thuộc vào từng bệnh nhân cụ thể, cần cân nhắc thêm yếu tố giá cả và khả năng xảy ra các phản ứng có hại. Không nên sử dụng đồng thời một thuốc ức chế men chuyển và một thuốc ức chế thụ thể AT1 vì có bằng chứng cho thấy sự kết hợp này làm giảm chức năng thận. Kết hợp thuốc ức chế men chuyển và thuốc ức chế thụ thể AT1 không làm giảm tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch khi so sánh với sử dụng thuốc ức chế men chuyển đơn độc.

Nhìn chung, các thuốc ức chế men chuyển và thuốc ức chế thụ thể AT1 dung nạp tốt. Các thuốc ức chế men chuyển có thể gây ho khan khó chịu, trong nhiều trường hợp cần phải thay đổi điều trị. Các thuốc ức chế thụ thể AT1 không gây ho khan. Trường hợp phù mạch tuy ít khi gặp nhưng cần thông báo với bệnh nhân bắt đầu điều trị với thuốc ức chế men chuyển hoặc ức chế thụ thể AT1 về một số dấu hiệu và triệu chứng xuất hiện cùng phù mạch. Cũng nên lưu ý bệnh nhân trong trường hợp không chắc chắn là phù mạch, khi thấy sưng trên mặt (thường sưng mí mắt) hoặc các chi, vẫn cần dừng thuốc và ngay lập tức hỏi ý kiến cán bộ y tế.

Thuốc lợi tiểu thiazid và thuốc lợi tiểu quai

Đối với bệnh nhân không có protein niệu, phác đồ điều trị ưu tiên vẫn chưa được xác định rõ ràng, có thể cân nhắc các nhóm thuốc khác như thiazid. Bệnh nhân mắc bệnh thận mạn và tăng huyết áp thường có hiện tượng giữ nước hoặc quá tải dịch, do đó thường cần sử dụng các thuốc lợi tiểu. Thiazid được khuyến cáo dùng cho bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn 2 và 3 (mức lọc cầu thận ≥30 ml/phút). Các thuốc này đã được chứng tỏ có hiệu quả trong việc giảm nguy cơ bệnh tim mạch và tăng huyết áp. Thuốc lợi tiểu quai được khuyên dùng cho bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn 4 hoặc 5 (mức lọc cầu thận <30 ml/phút) do các thuốc này đã được chỉ ra là có hiệu quả hơn trong việc làm giảm thể tích dịch ngoại bào ở các bệnh nhân có mức lọc cầu thận giảm nặng. Tuy nhiên, tác dụng lâu dài của thuốc lợi tiểu quai trên việc điều trị bệnh tim mạch vẫn chưa được chứng minh rõ ràng.

Các thuốc lợi tiểu thiazid (clorothalidon, hydroclorothiazid) và thuốc lợi tiểu quai (bumetanid, furosemid, torsemid) đều làm tăng acid uric máu (lợi tiểu). Sự tăng đào thải dịch có thể dẫn đến sự mất cân bằng điện giải.
Bệnh nhân cần được theo dõi điện giải đồ để phát hiện các rối loạn điện giải như tăng kali máu hay hạ magnesi máu. Hiện tượng tụt huyết áp thế đứng có thể xảy ra đối với bất kỳ một thuốc điều trị tăng huyết áp nào. Tuy nhiên, hiện tượng này rất phổ biến đối với các thuốc lợi tiểu. Cần dặn dò bệnh nhân khi bắt đầu điều trị bằng các thuốc lợi tiểu cần phải chuyển từ tư thế ngồi hoặc tư thế nằm sang tư thế đứng một cách từ từ.

Thuốc chẹn kênh calci

Các thuốc chẹn kênh calci là sự lựa chọn thứ 2 hoặc thứ 3 trong điều trị tăng huyết áp ở bệnh nhân mắc bệnh thận mạn. Trong khi không có nhiều sự khác biệt về tác dụng hạ huyết áp giữa các thuốc chẹn kênh calci không thuộc nhóm dihydropyridin (diltiazem, verapamil) và thuộc nhóm dihydropyridin (amlodipin, nifedipin), các thuốc không thuộc nhóm dihydropiridin lại có tác dụng làm giảm đáng kể protein niệu kể cả khi sử dụng đơn độc hay dùng đồng thời với một thuốc ức chế men chuyển hoặc một thuốc ức chế thụ thể AT1. Với khả năng làm giảm protein
cùng tác dụng hạ huyết áp, các thuốc chẹn kênh calci không thuộc nhóm dihydropyridin được khuyến cáo là lựa chọn thứ 2 hoặc thứ 3 trong điều trị ở các bệnh nhân mắc bệnh thận mạn có kèm hoặc không kèm đái tháo đường và có protein niệu. Các thuốc chẹn kênh calci nhóm dihydropyridin có thể là lựa chọn thứ 2 đối với các bệnh nhân bệnh thận mạn không mắc đái tháo đường và không có protein niệu. Các tác dụng không mong muốn thường gặp bao gồm phù và táo bón khi sử dụng các thuốc không thuộc nhóm dihydropyridin (đặc biệt là verapamil) và hiện tượng đỏ bừng mặt và phù ngoại biên đối với thuốc nhóm dihydropyridin.

Thuốc kháng aldosteron

Aldosteron gây ảnh hưởng nguy hiểm đến tiến triển của bệnh thận mạn. Thuốc kháng thụ thể aldosteron (như spironolacton, triamteren) có thể được sử dụng trong điều trị bệnh thận mạn nếu sử dụng các thuốc lựa chọn đầu tay và lựa chọn hàng thứ 2 mà vẫn chưa đạt được mức huyết áp mục tiêu. Thử nghiệm lâm sàng cho thấy các thuốc này cho tác dụng làm giảm protein niệu khi kết hợp với một thuốc ức chế men chuyển hay một thuốc ức chế thụ thể AT1.

Các thuốc kháng aldosteron là các thuốc lợi tiểu giữ kali nên làm tăng nguy cơ tăng kali máu, đặc biệt khi sử dụng với các thuốc ức chế men chuyển hoặc các thuốc ức chế thụ thể AT1.
Các bệnh nhân sử dụng thuốc lợi tiểu giữ kali cần được kiểm tra nồng độ kali thường xuyên để kịp thời phát hiện tình trạng rối loạn điện giải. Hậu quả của tăng kali máu bao gồm loạn nhịp tim và yếu cơ nghiêm trọng. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, chứng tăng kali máu có thể không gây ra triệu chứng gì nên việc theo dõi ít được quan tâm.

Thuốc ức chế renin

Aliskiren là thuốc ức chế renin duy nhất có mặt trên thị trường hiện nay. Thuốc này được chỉ định để điều trị tăng huyết áp dùng đơn độc hoặc phối hợp với valsartan. Các dữ liệu gần đây từ thử nghiệm ALTITUDE đã đưa ra chống chỉ định sử dụng phối hợp thuốc này với các thuốc ức chế men chuyển hoặc các thuốc ức chế thụ thể AT1 trên bệnh nhân đái tháo đường hoặc suy thận (mức lọc cầu thận dưới 60 ml/phút) do tăng nguy cơ suy thận, hạ huyết áp và tăng kali máu. Cân nhắc dùng aliskiren nếu bệnh nhân không thể sử dụng thuốc ức chế men chuyển hoặc thuốc ức chế thụ thể AT1; tuy nhiên không nên sử dụng thuốc này cho bệnh nhân suy thận giai đoạn 4 hoặc 5.

Thuốc chẹn beta

Hiện có rất ít tài liệu đánh giá tác dụng của các thuốc chẹn beta trên tiến triển của bệnh thận mạn và protein niệu. Tuy thuốc chẹn beta không được liệt kê trong bảng 2 nhưng các thuốc này có thể được cân nhắc là lựa chọn thứ 2 hoặc thứ 3 đối với bệnh nhân có chỉ định bắt buộc dùng thuốc chẹn beta như bệnh nhân mắc bệnh động mạch vành hoặc suy tim mạn.

Kết luận

Mối quan hệ giữa bệnh thận mạn và tăng huyết áp càng nhấn mạnh thêm tầm quan trọng của việc kiểm soát huyết áp và giảm
protein niệu. Các thuốc vừa có tác dụng làm giảm protein niệu vừa hạ huyết áp thường được lựa chọn hàng đầu. Tuy nhiên, bệnh nhân thường phải sử dụng 3 đến 4 thuốc điều trị tăng huyết áp để đạt được huyết áp mục tiêu và giảm thiểu nguy cơ bệnh tim mạch, đặc biệt ở bệnh nhân mắc bệnh thận giai đoạn cuối. Thêm vào đó, việc điều chỉnh lối sống hợp lý hơn luôn được xem là yếu tố quan trọng trong bất kỳ một phác đồ điều trị tăng huyết áp nào.

Trả lời