Cường cận giáp thứ phát do chạy thận

Những lưu ý trong dùng thuốc điều trị rối loạn chuyển hóa chất khoáng xương

Tóm Tắt Về Bệnh Lý:

Như các bạn đã biết, bệnh nhân suy thận thường thiếu Vitamin D hoạt động, hạ calci máu, tăng phosphate máu, tăng PTH. Hậu quả của rối loạn này là gây cường cận giáp, lắng đọng chất khoáng ở tim và mô, gây tăng huyết áp, suy tim, ngứa, tổn thương xương… Dần dần, cơ thể sẽ bị phá hủy trầm trọng.

Bệnh thường diễn âm thầm, điều quan trọng là cần phát hiện sớm bệnh và kiểm soát nó. Theo hướng dẫn của Tổ chức Thận học Quốc tế (INS-KDIGO về CKD-MBD:2017) thì người bệnh được làm xét nghiệm từ bệnh thận mạn giai đoạn 3a. Khi các bạn ở giai đoạn chạy thận mới nghĩ đến nó thì có vẻ đã muộn. Nhưng dù sao, muộn còn hơn không, chúng ta vẫn phải khống chế bệnh để ngăn không cho bệnh phát triển.


Những xét nghiệm cần thiết để chuẩn đoán bệnh Cường cận giáp thứ phát:

  1. Canxi máu
  2. Phosphate máu
  3. PTH máu
  4. Vitamin D

 

Sau khi xét nghiệm kiểm tra bác sỹ sẽ dựa vào vào kết quả để đánh giá tình trạng bệnh để cho bạn phương án điều trị tốt nhất.

Phương án điều trị chung cho bệnh cường cận giáp thứ phát:

Mục đích điều trị bệnh:

Khống chế tăng phospho máu, cố gắng đưa nó về khoảng bình thường, đưa calci máu về khoảng bình thường, và duy trì PTH trong khoảng cho phép là 150 đến 300 pg/ml.

Các loại thuốc hỗ trợ điều trị bệnh cường cận giáp:

Có 4 loại thuốc chính điều tri gồm:

  • Hai nhóm thuốc gắn phosphate: các thuốc này làm việc bằng cách gắn với phosphate chứa trong thức ăn, ngăn cản hấp  thu vào máu vì vậy phải uống trong lúc ăn. Trong nhóm này gồm có:
    • loại thuốc gắn phosphate chứa can xi như calci carbonate, calci acetate…,
    • thuốc gắn phosphate không chứa calci như sevelamer, lanthanum.
  • Hai nhóm thuốc ức chế tuyến cận giáp gồm
    • vitamin D hoạt động
    • calcimimetric (cinacalcet)

Các lưu ý quan trọng khi dùng thuốc điều trị

Điều trị bệnh thường phải qua 4 giai đoạn như sau:

1.Đánh giá mức độ và điều trị ban đầu.

2.Xem xét có nên cho thêm vitamin D hoạt động hay cinacacet không.

3.Điều chỉnh liều và xem xét phối hợp cinacalcet và vitamin D hoạt động.

LƯU Ý: Bắt đầu từ giai đoạn 2, vấn đề trở nên phức tạp hơn rất nhiều vì tác dụng ngược chiều nhau của Vitamin D hoạt động và cinacalcet. Trong khi vitamin D hoạt động, một mặt ức chế tuyến cận giáp. Tuy nhiên, tác dụng ủa nó trên đường tiêu hóa lại làm làm tăng cường hấp thu phosphorus và can xi ruột, làm tăng calci và phosphat máu. Vì vậy, chỉ có thể sử dụng được ở những người mà phosphate đã được khống chế đầy đủ. Trong khi đó, cinacalcet lại làm hạ calci máu đôi khi gây tác dụng phụ nguy hiểm ở người có can xi máu thấp.

Theo khuyến cáo của KDIGO và KDOQI, trong điều trị, cần cố gắng hạn chế sử dụng hoặc giảm liều vitamin D hoạt động. Vì vậy, việc dùng thuốc nào, khi nào thì bạn cần có sự tư vấn kỹ càng của bác sỹ, không nên tự ý điều trị.

 

GIỚI THIỆU BÁC SĨ ĐIỀU TRỊ BỆNH:

Bác sỹ Nguyễn Thanh Hùng

Khoa Thận tiết niệu, Bệnh viện đa khoa khu vực Phúc Yên

Phường Hùng Vương, Thành phố Phúc Yên, Tỉnh Vĩnh Phúc

Điện thoại: 0949.682.081

Trả lời